Bí mật kinh doanh là một trong những đối tượng quyền sở hữu công nghiệp, được Pháp luật Sở hữu Trí tuệ điều chỉnh. Nếu như các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp khác như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tên thương mại,… được pháp luật bảo hộ thông qua đăng ký xin cấp bằng bảo hộ thì Bí mật kinh doanh lại là một đối tượng khác hẳn và đặc biệt hơn.

Nhiều câu hỏi đặt ra là có Đăng ký bảo hộ cho bí mật kinh doanh được không? Và thủ tục đăng ký như thế nào?

Câu trả lời là KHÔNG!

Không có bất kỳ một quy trình, thủ tục nào để đăng ký bảo hộ bí mật kinh doanh với Nhà nước. Chúng tôi cho rằng, điều này là phù hợp. Bí mật kinh doanh liên quan đến sự phát triển của doanh nghiệp. Tùy thuộc vào tính chất của những thông tin mà tầm ảnh hưởng của nó sẽ tác động nhiều hay ít đến doanh nghiệp đó, nhưng cho dù nhiều hay ít thì những thông tin này cũng giúp cho doanh nghiệp có thêm phần lợi thế và “khác biệt” so với các doanh nghiệp khác. Nên có thể nói bí mật kinh doanh là một phạm trù khá nhạy cảm và riêng tư của doanh nghiệp. Vì là những “bí mật” nên không chỉ đối với những doanh nghiệp khác, mà ngay cả với cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp cũng rất ngại phải “tiết lộ” những bí mật này.

Nếu có thủ tục đăng ký đối với bí mật kinh doanh, việc kê khai nội dung bí mật kinh doanh cũng là một vấn đề vướng mắc. Trong trường hợp phải ghi chi tiết, đầy đủ nội dung “thông tin”, thì như đã đề cập ở trên, các doanh nghiệp luôn mang tâm lý không để ai biết bí mật của doanh nghiệp mình. Vậy trong trường hợp chỉ kê khai sơ bộ nội dung thì sao? Việc chỉ kê khai khái quát bí mật kinh doanh sẽ gây khó khăn cho cơ quan nhà nước trong việc kiểm định xem thông tin đó có phải là bí mật kinh doanh hay không, từ đó sẽ khó lòng quản lý được.

Việc không cần đăng ký bảo hộ bí mật kinh doanh kéo theo một nghi vấn cho các doanh nghiệp là nhà nước sẽ bảo hộ bí mật kinh doanh như thế nào?

Vì thấu hiếu tâm lý không muốn tiết lộ thông tin bảo mật của các doanh nghiệp, nên trên thực tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền hầu như không quản lý trong quá trình các doanh nghiệp sử dụng, khai thác bí mật kinh doanh. Điều đó có nghĩa là pháp luật chỉ có trách nhiệm khi đã xuất hiện hành vi xâm phạm tới bí mật kinh doanh, hay nói cách khác là khi đã tồn tại thiệt hại, hậu quả.

Ở trên, chúng tôi nhấn mạnh là đã có “hành vi xâm phạm tới bí mật kinh doanh”, tức là chỉ có các hành vi xâm phạm của chủ thế khác khi không được phép của chủ sở hữu thì mới phát sinh “trách nhiệm bảo hộ” từ nhà nước. Còn khi lỗi thuộc về Chủ sở hữu như, lỗi do doanh nghiệp đã lầm tưởng thông tin đó là bí mật kinh doanh hay trong quá trình sử dụng, chủ sở hữu không có các biện pháp bảo mật khiến cho thông tin dễ dàng bị tiếp cận thì các “bí mật kinh doanh” này đã không còn thuộc phạm vi được bảo hộ ngay từ lúc bắt đầu.

Điều này cho thấy việc nhận diện đối tượng nào là bí mật kinh doanh và phải bảo vệ các bí mật này ra sao trong quá trình sử dụng là một việc rất quan trọng để các bí mật này đủ điều kiện được bảo hộ nếu có tranh chấp xảy ra. Do đó, các doanh nghiệp nên tìm đến sự hỗ trợ pháp lý từ các công ty, văn phòng luật sư uy tín ngay từ ban đầu chứ không phải khi đã xuất hiện hậu quả.