CÓ NÊN QUY ĐỊNH ĐIỀU KHOẢN VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

TRONG HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG?

Đây là một câu hỏi dành cho Người sử dụng lao động (NSDLĐ) – Doanh nghiệp trong quá trình ký kết Hợp đồng lao động (HĐLĐ) với Người lao động (NLĐ). Trước khi trả lời câu hỏi trên, NSDLĐ nên nghĩ đến câu chuyện Bí mật kinh doanh và tài sản trí tuệ của Doanh nghiệp.

Nếu như vào một ngày đẹp trời, chiến lược kinh doanh/sản phẩm/công thức chế biến/sáng chế đã được xây dựng/sáng tạo từ lâu với bao tâm huyết của đội ngũ nhân viên và chi phí tốn kém thử nghiệm, trang bị máy móc tân tiến để sản xuất bỗng chốc được đối thủ cạnh tranh tung ra thị trường trước Doanh nghiệp bạn. Hoặc, nhân viên/người làm thuê trong Doanh nghiệp bỗng dưng thiết kế/cho ra đời một sáng chế/tác phẩm/kiểu dáng công nghiệp thì Doanh nghiệp bạn hay nhân viên/người lao động/người làm thuê là chủ sở hữu? Cùng bàn về câu chuyện trên thông qua hai nội dung chính:

1.       Liên quan đến Bí mật kinh doanh

Bộ Luật Lao động 2012 quy định: Khi người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật, thì người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản với người lao động về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp người lao động vi phạm”. Như vậy, pháp luật lao động đã quy định rõ về việc hai bên có thể thỏa thuận điều khoản liên quan đến Bí mật kinh doanh trong HĐLĐ, vấn đề còn lại của Doanh nghiệp là, quy định như thế nào? Nếu có hậu quả xảy ra thì giải quyết như thế nào?

Thứ nhất, khi ký kết HĐLĐ, Doanh nghiệp phải xác định rõ đâu là Bí mật kinh doanh, thông tin cần được bảo mật;

Thứ hai, quy định rõ điều khoản bồi thường thiệt hại khi vi phạm;

Thứ ba, có thể xác lập một thỏa thuận cam kết về việc NLĐ sẽ không làm việc cho các doanh nghiệp khác có cùng lĩnh vực kinh doanh trong một thời hạn nhất định sau khi chấm dứt hợp đồng lao động;

Thứ tư, tại nội quy lao động, doanh nghiệp có thể bổ sung các hành vi liên quan đến hành vi vi phạm, tiết lộ bí mật kinh doanh, thông tin bí mật,… áp dụng hình thức kỷ luật sa thải.

2.       Liên quan đến vấn đề ai là chủ sở hữu các sáng chế/tác phẩm/kiểu dáng công nghiệp

Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định rằng tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chức mình là chủ sở hữu các quyền về tài sản hoặc tổ chức, cá nhân sử dụng thời gian, đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để thực hiện cuộc biểu diễn/sản xuất bản ghi âm, ghi hình,… là chủ sở hữu bản ghi âm, ghi hình/cuộc biểu diễn đó.

Từ quy định trên, có thể hiểu một cách ngắn gọn nếu NSDLĐ thuê/giao việc nghiên cứu, sáng tạo một sản phẩm cho NLĐ thì NSDLĐ được công nhận là chủ sở hữu sản phẩm trên, NLĐ trong trường hợp trên là tác giả, được hưởng các quyền nhân thân theo quy định.

Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp như:

  • NSDLĐ không giao nhiệm vụ/không thuê NLĐ tạo ra sản phẩm nhất định mà NLĐ trong quá trình lao động, tự nghiên cứu sáng tạo ra;
  • Hoặc NSDLĐ không giao nhiệm vụ/không thuê NLĐ tạo ra sản phẩm nhất định mà NLĐ tự nghiên cứu sáng tạo ra sản phẩm và không sử dụng bất kì công cụ, phương tiện nào hỗ trợ của NSDLĐ cũng như không sáng tạo, nghiên cứu trong thời gian lao động.

Vì vậy, trong những trường hợp này, NLĐ và NSDLĐ nên thỏa thuận rõ trong HĐLĐ hoặc phụ lục đính kèm.

Uyên Nguyễn